Nguyễn Trãi với Bình Ngô sách: Nhân tâm là gốc quản trị con người

Nguyễn Trãi với Bình Ngô sách: Nhân tâm là gốc quản trị con người

Admin 22/07/2026

nguyen-trai-binh-ngo-sach

Nguyễn Trãi (1380–1442), khi dâng lên Lê Lợi bản Bình Ngô sách vào những ngày đầu tìm về với nghĩa quân Lam Sơn, đã không chỉ trình bày một kế hoạch quân sự thông thường, mà đặt nền móng cho một triết lý dùng người và trị nước sâu sắc, được hậu thế gọi bằng cái tên "mưu phạt tâm công" – đánh giặc bằng mưu trí và đánh thẳng vào lòng người. Khác với các chiến lược quân sự thuần túy dựa vào sức mạnh vũ khí hay địa thế hiểm yếu như cọc nhọn trên sông Bạch Đằng hay hỏa công trên sông Bạch Đằng thời Trần, kế sách của Nguyễn Trãi đặt trọng tâm vào việc chinh phục lòng người – cả lòng dân trong nước lẫn lòng quân địch. Ông chủ trương rằng việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, rằng sức mạnh thực sự của một cuộc kháng chiến không chỉ nằm ở gươm giáo mà còn nằm ở khả năng quy tụ, thu phục nhân tâm. Chính tư tưởng ấy – được vận dụng xuyên suốt mười năm khởi nghĩa Lam Sơn, từ việc chiêu mộ hiền tài, quy tụ lòng dân, đến việc dụ hàng hàng loạt tướng giặc mà không cần đổ máu – đã trở thành một bài học kinh điển về quản trị con người: muốn nắm được người, trước hết phải nắm được lòng người.

Tóm tắt nhanh

  • Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn năm 1420, dâng lên Lê Lợi bản Bình Ngô sách, trong đó đề ra những phương lược cơ bản để đánh đuổi quân Minh.
  • Chiến lược cốt lõi trong Bình Ngô sách là "tâm công kế" – đánh vào lòng người, được xem là chiến lược góp phần quyết định vào chiến thắng của cuộc kháng chiến chống quân Minh.
  • Theo quan điểm của Nguyễn Trãi, đánh vào tinh thần là thứ nhất, đánh vào thành trì là thứ hai; trong 15 thành quân Minh trấn giữ, nghĩa quân chỉ tiêu diệt 2 thành bằng vũ lực, số còn lại đều bằng vận động chính trị, dụ hàng.
  • Tư tưởng nhân nghĩa của ông được đúc kết trong Bình Ngô đại cáo qua câu "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", coi việc chăm lo đời sống nhân dân là gốc rễ của mọi hành động chính nghĩa.
  • Nguyễn Trãi chủ trương chiêu mộ người tài không phân biệt xuất thân, thể hiện qua hình ảnh "Cỗ xe cầu hiền thường chăm chăm còn dành phía tả".
  • Ông trực tiếp viết nhiều bức thư dụ hàng tướng giặc, tiêu biểu là "Tái dụ Vương Thông thư", được đánh giá có "sức mạnh bằng mười vạn quân".
  • Tâm công kế bao gồm hai phương thức chính: dụ hàng tướng lĩnh, binh sĩ địch và ngụy quân; khi cần thì hòa hoãn tạm thời để bảo toàn lực lượng, khi có ưu thế thì dùng lý lẽ buộc địch chấm dứt chiến tranh.
  • Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn thể hiện ở lòng khoan dung, độ lượng ngay cả với kẻ thù – lấy ơn báo oán, tha tội chết cho những kẻ lầm đường lạc lối.
  • Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Bộ Tham mưu Lam Sơn đã biết dựa vào dân, xây dựng lực lượng nghĩa quân từ nhân dân, phát động cuộc chiến tranh nhân dân kết hợp quân sự, chính trị và binh vận.

Bảng tóm tắt

Nội dung Chi tiết
Nhân vật Nguyễn Trãi (1380–1442)
Văn kiện gốc Bình Ngô sách, dâng lên Lê Lợi năm 1420
Chiến lược cốt lõi "Mưu phạt tâm công" – đánh bằng mưu trí và đánh vào lòng người
Nguyên tắc ưu tiên Đánh vào tinh thần là thứ nhất, đánh vào thành trì là thứ hai
Kết quả thực chiến 13/15 thành quân Minh hạ bằng vận động chính trị, dụ hàng thay vì vũ lực
Tư tưởng nền tảng Nhân nghĩa – "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân"
Chính sách dùng người Chiêu mộ hiền tài không phân biệt xuất thân ("cỗ xe cầu hiền")
Văn bản tiêu biểu "Tái dụ Vương Thông thư" và nhiều thư dụ hàng khác
Hai phương thức tâm công Dụ hàng tướng địch; hòa hoãn tạm thời khi cần bảo toàn lực lượng
Thái độ với kẻ thù Khoan dung, độ lượng, lấy ơn báo oán, tha tội cho kẻ lầm đường
Kết quả tổng thể Kết thúc chiến tranh bằng đàm phán hòa bình, giảm tổn thất đôi bên
Giá trị lịch sử Tiền đề cho "chiến tranh tâm lý" và "quyền lực mềm" trong tư duy hiện đại

>>>Xem thêm:  Nguyễn Trãi phò Lê dựng nghiệp: mưu lược kiến quốc và sức mạnh của người hiền


Nguyễn Trãi và sự ra đời của Bình Ngô sách

Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn vào năm 1420, đồng thời dâng lên Lê Lợi bản Bình Ngô sách. Đây không đơn thuần là một bản kế hoạch tác chiến thông thường, mà là kết tinh của một tầm nhìn chiến lược toàn diện, trong đó bao gồm những phương lược cơ bản để đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi. Điều làm nên giá trị đặc biệt của bản sách này chính là việc nó không chỉ tập trung vào khía cạnh quân sự thuần túy, mà còn đặt trọng tâm vào một chiến lược mang tính đột phá: đánh vào lòng người thay vì chỉ đánh vào thành trì, binh lực.

Đây chính là điểm khác biệt căn bản làm nên dấu ấn riêng của Nguyễn Trãi so với các bậc tiền nhân. Trong dòng chảy lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam, nếu Ngô Quyền nổi tiếng với kế đóng cọc nhọn trên sông Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo lừng danh với hỏa công đánh cháy thuyền giặc, thì đóng góp riêng có của Nguyễn Trãi chính là chiến lược "mưu phạt tâm công" – nghĩa là đánh giặc bằng mưu trí và đánh vào lòng người, được xem là phương châm cơ bản xuyên suốt cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.


Mưu phạt tâm công – đánh vào tinh thần trước khi đánh vào thành trì

Theo quan điểm cốt lõi của Nguyễn Trãi, đánh vào tinh thần là thứ nhất, đánh vào thành trì là thứ hai. Đây là một nguyên tắc chỉ đạo mang tính cách mạng trong tư duy quân sự: thay vì dồn toàn lực để công phá từng thành trì kiên cố bằng vũ lực – vốn tốn kém xương máu và thời gian – Nguyễn Trãi chủ trương làm suy sụp ý chí, tinh thần chiến đấu của quân địch trước, để đạt được mục tiêu "không đánh mà thắng".

Thực tiễn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã minh chứng rõ rệt hiệu quả của tư duy này: trong tổng số 15 thành mà quân Minh trấn giữ, nghĩa quân Lam Sơn chỉ phải tiêu diệt 2 thành bằng bạo lực vũ trang, còn lại toàn bộ số thành khác đều được giải quyết thông qua vận động chính trị, dụ hàng hoặc buộc địch phải tự nguyện giao nộp thành trì. Đây là một tỷ lệ đáng kinh ngạc, cho thấy chiến lược tâm công không chỉ là một khẩu hiệu lý thuyết mà thực sự được vận dụng nhất quán, hiệu quả trong suốt quá trình tác chiến, giúp nghĩa quân tiết kiệm được rất nhiều xương máu và nguồn lực vốn đã eo hẹp của một cuộc khởi nghĩa dân tộc.

>>>Xem thêm:  Lê Lợi thu phục Nguyễn Trãi: biết mời bậc mưu thần để bù khoảng khuyết của mình


Tư tưởng nhân nghĩa – gốc rễ của việc yên dân

Nền tảng sâu xa nhất làm nên sức mạnh của chiến lược tâm công chính là tư tưởng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi kiên trì theo đuổi. Trong Bình Ngô đại cáo, ông đã đúc kết tư tưởng ấy bằng một câu nói bất hủ: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Đây không chỉ là một tuyên ngôn chính trị, mà còn là kim chỉ nam xuyên suốt cho mọi quyết sách của cuộc khởi nghĩa: mọi hành động, dù là quân sự hay chính trị, đều phải hướng đến mục tiêu cao nhất là mang lại sự yên ổn, no ấm cho nhân dân.

Có một khía cạnh rất đáng quý trong tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi, đó là tư tưởng trọng dân, biết ơn dân – ông từng khẳng định "chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân", một quan niệm sâu sắc về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự tồn vong của bất kỳ chính quyền nào. Chính từ nhận thức này, muốn dân được yên bình, no ấm thì phải yêu cầu chấm dứt mọi bạo ngược, bóc lột nhân dân – một tư tưởng vừa mang tính nhân văn sâu sắc, vừa có giá trị thực tiễn to lớn trong việc quy tụ sức mạnh toàn dân cho cuộc kháng chiến.


Cỗ xe cầu hiền – chiêu mộ nhân tài không phân biệt xuất thân

Song hành với tư tưởng nhân nghĩa dành cho quảng đại quần chúng, Nguyễn Trãi còn đặc biệt chú trọng đến việc chiêu mộ, quy tụ người tài về với nghĩa quân. Trong Bình Ngô đại cáo, hình ảnh "Cỗ xe cầu hiền thường chăm chăm còn dành phía tả" đã trở thành biểu tượng cho tinh thần trọng dụng nhân tài không ngơi nghỉ của bộ chỉ huy khởi nghĩa Lam Sơn – luôn sẵn sàng, luôn rộng mở đón nhận bất kỳ ai có tài năng thực sự, bất kể xuất thân, để cùng chung sức lo việc lớn.

Đây chính là một khía cạnh quan trọng trong triết lý "nhân tâm là gốc của quản trị con người" mà Nguyễn Trãi theo đuổi: không chỉ dừng lại ở việc thu phục lòng dân thường hay làm lung lay tinh thần quân địch, mà còn chủ động, kiên trì tìm kiếm và trọng dụng những người tài giỏi để bổ sung cho bộ máy lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa. Việc kết hợp giữa chiêu hiền đãi sĩ và thu phục lòng dân đã tạo nên một hệ sinh thái nhân sự toàn diện, giúp nghĩa quân Lam Sơn từ một lực lượng ban đầu nhỏ bé dần lớn mạnh thành một phong trào chiến tranh nhân dân rộng khắp.

>>>Xem thêm:  Lý Nam Đế chọn Triệu Túc, Triệu Quang Phục: trao việc cho đúng người, đúng trận


Những bức thư dụ hàng – "sức mạnh bằng mười vạn quân"

Một trong những biểu hiện cụ thể và hiệu quả nhất của chiến lược tâm công chính là hàng loạt bức thư dụ hàng tướng giặc mà Nguyễn Trãi trực tiếp soạn thảo trong suốt quá trình kháng chiến. Bằng tài năng quân sự, văn chương cùng tư tưởng nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã nhiều lần viết thư dụ địch đầu hàng thành công, trong đó tiêu biểu nhất là bức "Tái dụ Vương Thông thư" – minh chứng rõ nét cho kế sách mưu phạt tâm công của ông.

Những bức thư dụ hàng tướng giặc của Nguyễn Trãi được đánh giá đã có "sức mạnh bằng mười vạn quân", góp phần làm tan rã tinh thần chiến đấu của giặc mà không cần một trận đánh đổ máu nào. Theo Ức Trai di tập, tâm công kế được triển khai theo hai phương thức chủ yếu: một là dụ hàng các tướng lĩnh, binh sĩ địch và cả lực lượng ngụy quân đang phục vụ cho quân Minh; hai là khi cần thiết thì tạm thời hòa hoãn với địch để bảo toàn lực lượng của nghĩa quân, còn khi ưu thế đã nghiêng hẳn về phía mình thì dùng lý lẽ sắc bén để buộc địch phải chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước trong danh dự tương đối, tránh một cuộc đối đầu đến cùng gây tổn thất nặng nề cho cả đôi bên.


Khoan dung với kẻ thù – nét độc đáo riêng có trong tư tưởng nhân nghĩa

Điều đặc biệt làm nên chiều sâu nhân văn trong tư tưởng của Nguyễn Trãi chính là việc ông áp dụng lòng nhân nghĩa không chỉ với nhân dân mình mà còn cả với kẻ thù. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn biểu hiện ở lòng thương người, ở sự khoan dung độ lượng, thậm chí đối với cả kẻ thù – đây được xem là nét độc đáo riêng có trong toàn bộ hệ thống tư tưởng nhân nghĩa của ông.

Theo Nguyễn Trãi, khoan dung, độ lượng, lấy ơn báo oán, tha tội chết cho những kẻ lầm lối lạc đường chính là một trong những điểm mạnh cốt lõi của chiến lược tâm công – tức đánh thẳng vào lòng người bằng chính nhân cách và sự chân thật của bản thân mình. Quan niệm về khoan dung và đoàn kết này của Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng từ nhiều luồng tư tưởng, trong đó Nho, Phật, Lão là nền tảng, nhưng bản sắc dân tộc Việt vẫn là xu hướng chủ đạo xuyên suốt. Chính sự khoan dung có tính toán này – vừa xuất phát từ lòng nhân, vừa mang tính chiến lược thực tiễn – đã giúp nghĩa quân Lam Sơn thu phục được không ít binh sĩ, tướng lĩnh vốn từng là kẻ thù, biến họ từ đối tượng cần tiêu diệt thành những người có thể quy hàng trong danh dự.

>>>Xem thêm:  Lý Thường Kiệt chủ động đánh trước: tư duy nhân sự gắn với chiến lược quốc gia 


Chiến tranh nhân dân – nền tảng thực tiễn của tâm công kế

Chiến lược tâm công của Nguyễn Trãi không thể tách rời khỏi bối cảnh thực tiễn của cuộc chiến tranh nhân dân mà Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Bộ Tham mưu Lam Sơn đã dày công xây dựng. Điểm khác căn bản giữa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với những cuộc khởi nghĩa trước đó là ở chỗ, bộ chỉ huy đã biết dựa vào dân, xây dựng lực lượng nghĩa quân từ chính nhân dân để tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân đánh giặc.

Với mục đích chính nghĩa hợp lòng dân, nghĩa quân Lam Sơn được đông đảo nhân dân ủng hộ, từ đó phát động được một cuộc chiến tranh nhân dân thực sự, kết hợp tiến công địch bằng cả sức mạnh của nghĩa quân lẫn sự nổi dậy của quần chúng nhằm bao vây, tiêu diệt địch và giành lại quyền tự chủ. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm, tổ tiên ta đã vận dụng một cách bài bản phương thức đánh địch bằng sự kết hợp giữa quân sự, chính trị và binh vận, giữa sức mạnh quân sự và sức mạnh ngoại giao – một tổng hòa chiến lược mà tâm công kế chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, kết nối tất cả các mảnh ghép ấy thành một chỉnh thể thống nhất.

Giá trị vượt thời đại: bài học quản trị con người từ tâm công kế

Nhìn từ góc độ hiện đại, chiến lược tâm công của Nguyễn Trãi mang giá trị vượt xa phạm vi một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thế kỷ XV. Quan niệm hiện đại gọi nghệ thuật quân sự này là "chiến tranh tâm lý" hoặc cách thức sử dụng "quyền lực mềm" nhằm kết thúc xung đột trong tình trạng đàm phán hòa bình, hạn chế tối đa việc dùng đến bạo lực. Về bản chất, tâm công là sử dụng sức mạnh phi vật chất – niềm tin, tình cảm, lý lẽ, lòng nhân nghĩa – để tác động, thuyết phục và thu phục con người, thay vì chỉ dựa vào quyền uy hay sức mạnh cưỡng ép đơn thuần.

Đây chính là bài học cốt lõi về quản trị con người mà tư tưởng của Nguyễn Trãi để lại cho hậu thế: dù trong bối cảnh chiến tranh hay trong công cuộc quản lý, lãnh đạo bất kỳ tổ chức, cộng đồng nào ở thời bình, việc thu phục được nhân tâm – tức là giành được sự tin tưởng, đồng thuận thực sự từ những người mình cần dẫn dắt hoặc thuyết phục – luôn là nền tảng bền vững hơn nhiều so với việc chỉ dựa vào quyền lực, mệnh lệnh hay sức mạnh áp đặt. Từ việc chiêu mộ hiền tài bằng "cỗ xe cầu hiền", đến việc yên dân bằng chính sách nhân nghĩa, và cả việc thu phục kẻ thù bằng lòng khoan dung, Nguyễn Trãi đã chứng minh một chân lý xuyên suốt: nắm được lòng người chính là nắm được gốc rễ của mọi thành công lâu dài, bất kể trong lĩnh vực quân sự, chính trị hay quản trị con người nói chung.

>>>Xem thêm:  Trần Nhân Tông hòa hợp tông thất: chiến lược đoàn kết nội bộ để chống ngoại xâm


Câu hỏi thường gặp (FAQ) về Nguyễn Trãi

Bình Ngô sách được Nguyễn Trãi dâng lên Lê Lợi vào năm nào?
Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn năm 1420 và dâng bản Bình Ngô sách lên Lê Lợi ngay trong thời gian này, đặt nền móng cho toàn bộ đường lối chiến lược của cuộc khởi nghĩa.

"Mưu phạt tâm công" có nghĩa là gì?
Đây là chiến lược đánh giặc bằng mưu trí kết hợp với việc đánh vào lòng người, ưu tiên làm suy sụp tinh thần, ý chí chiến đấu của quân địch trước khi phải dùng đến vũ lực để công phá thành trì.

Nguyễn Trãi đã áp dụng tâm công kế như thế nào trong thực tế?
Ông trực tiếp soạn thảo nhiều bức thư dụ hàng tướng giặc, tiêu biểu là "Tái dụ Vương Thông thư"; nhờ đó, trong 15 thành quân Minh trấn giữ, nghĩa quân chỉ phải tiêu diệt 2 thành bằng vũ lực, còn lại đều giải quyết bằng vận động chính trị và dụ hàng.

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi được thể hiện qua câu nói nào?
Trong Bình Ngô đại cáo, ông đúc kết tư tưởng này qua câu "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", khẳng định mọi hành động chính nghĩa đều phải hướng đến việc mang lại sự yên ổn, no ấm cho nhân dân.

Vì sao nói kế sách của Nguyễn Trãi là bài học về quản trị con người?
Vì tâm công kế không chỉ là chiến lược quân sự mà còn là triết lý xuyên suốt về việc thu phục lòng người – từ chiêu mộ hiền tài, thu phục lòng dân đến cảm hóa kẻ thù bằng khoan dung – cho thấy nắm được nhân tâm chính là gốc rễ bền vững nhất của mọi sự lãnh đạo, quản trị lâu dài.

Bài viết liên quan

Thân Nhân Trung và hiền tài là nguyên khí: Chiến lược nhân tài vượt thời đại

Thân Nhân Trung để lại tư tưởng “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, khẳng định vai trò chiến lược của giáo dục, khoa cử và dùng người tài trong dựng nước.

Lê Thánh Tông lập Hội Tao Đàn: Dưỡng người tài, tạo sức mạnh mềm

Năm 1495, Lê Thánh Tông sáng lập Tao Đàn Nhị thập bát tú, quy tụ 28 tiến sĩ tài hoa cùng xướng họa thi ca. Tìm hiểu cách vị vua thời Hồng Đức dưỡng người tài để tạo sức mạnh mềm văn hóa cho quốc gia Đại Việt.

Lê Lợi thu phục Nguyễn Trãi: mời bậc mưu thần để bù khoảng khuyết của mình

Lê Lợi trọng dụng Nguyễn Trãi ngay khi nhận Bình Ngô sách, biến một trí thức thành quân sư số một của khởi nghĩa Lam Sơn. Tìm hiểu cách vị chủ tướng áo vải biết mời bậc mưu thần để bù khoảng khuyết của chính mình.

Hồ Quý Ly cải cách nhân sự: Thay người nhanh, thiếu đồng thuận được mất gì

Hồ Quý Ly thay thế quý tộc Trần bằng đội ngũ quan lại mới qua thi cử, nhưng thanh trừng nhanh khiến mất nhiều nhân tài. Tìm hiểu cái được và cái mất trong cải cách nhân sự cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV.

Trần Nhân Tông hòa hợp tông thất: Đoàn kết nội bộ chống ngoại xâm

Trần Nhân Tông thực hiện chính sách đoàn kết toàn dân, hòa giải mâu thuẫn giữa các chi họ Trần, tiêu biểu là câu chuyện Trần Hưng Đạo tắm cho Trần Quang Khải. Tìm hiểu chiến lược hòa hợp tông thất để chống ngoại xâm của vị vua Trần thứ ba.

Tin tức và Sự kiện liên quan

Thân Nhân Trung và hiền tài là nguyên khí: Chiến lược nhân tài vượt thời đại

Thân Nhân Trung để lại tư tưởng “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, khẳng định vai trò chiến lược của giáo dục, khoa cử và dùng người tài trong dựng nước.

Lê Thánh Tông lập Hội Tao Đàn: Dưỡng người tài, tạo sức mạnh mềm

Năm 1495, Lê Thánh Tông sáng lập Tao Đàn Nhị thập bát tú, quy tụ 28 tiến sĩ tài hoa cùng xướng họa thi ca. Tìm hiểu cách vị vua thời Hồng Đức dưỡng người tài để tạo sức mạnh mềm văn hóa cho quốc gia Đại Việt.

Lê Lợi thu phục Nguyễn Trãi: mời bậc mưu thần để bù khoảng khuyết của mình

Lê Lợi trọng dụng Nguyễn Trãi ngay khi nhận Bình Ngô sách, biến một trí thức thành quân sư số một của khởi nghĩa Lam Sơn. Tìm hiểu cách vị chủ tướng áo vải biết mời bậc mưu thần để bù khoảng khuyết của chính mình.

Lý Nam Đế chọn Triệu Túc, Triệu Quang Phục: Trao việc cho đúng người, đúng trận

Cách Lý Nam Đế trọng dụng Triệu Túc và Triệu Quang Phục, bài học "trao việc cho đúng người, đúng trận" trong dùng người và quản trị khủng hoảng từ nhà nước Vạn Xuân.

An Dương Vương dùng Cao Lỗ: Chiến lược trọng kỹ nghệ, thực tài

An Dương Vương trọng dụng tướng Cao Lỗ – người chế tạo nỏ thần liên châu, thiết kế thành Cổ Loa. Tìm hiểu chiến lược trọng kỹ nghệ và người có thực tài của vua Âu Lạc qua truyền thuyết và di chỉ khảo cổ.

Bình luận

! Nhập đánh giá không được để trống

! Họ và tên không được để trống

! Số điện thoại không được để trống

Bài viết liên quan

Thân Nhân Trung và hiền tài là nguyên khí: Chiến lược nhân tài vượt thời đại

Thân Nhân Trung để lại tư tưởng “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, khẳng định vai trò chiến lược của giáo dục, khoa cử và dùng người tài trong dựng nước.

Lê Thánh Tông lập Hội Tao Đàn: Dưỡng người tài, tạo sức mạnh mềm

Năm 1495, Lê Thánh Tông sáng lập Tao Đàn Nhị thập bát tú, quy tụ 28 tiến sĩ tài hoa cùng xướng họa thi ca. Tìm hiểu cách vị vua thời Hồng Đức dưỡng người tài để tạo sức mạnh mềm văn hóa cho quốc gia Đại Việt.

Lê Lợi thu phục Nguyễn Trãi: mời bậc mưu thần để bù khoảng khuyết của mình

Lê Lợi trọng dụng Nguyễn Trãi ngay khi nhận Bình Ngô sách, biến một trí thức thành quân sư số một của khởi nghĩa Lam Sơn. Tìm hiểu cách vị chủ tướng áo vải biết mời bậc mưu thần để bù khoảng khuyết của chính mình.

Hồ Quý Ly cải cách nhân sự: Thay người nhanh, thiếu đồng thuận được mất gì

Hồ Quý Ly thay thế quý tộc Trần bằng đội ngũ quan lại mới qua thi cử, nhưng thanh trừng nhanh khiến mất nhiều nhân tài. Tìm hiểu cái được và cái mất trong cải cách nhân sự cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV.

Trần Nhân Tông hòa hợp tông thất: Đoàn kết nội bộ chống ngoại xâm

Trần Nhân Tông thực hiện chính sách đoàn kết toàn dân, hòa giải mâu thuẫn giữa các chi họ Trần, tiêu biểu là câu chuyện Trần Hưng Đạo tắm cho Trần Quang Khải. Tìm hiểu chiến lược hòa hợp tông thất để chống ngoại xâm của vị vua Trần thứ ba.

Tin tức và Sự kiện liên quan

Thân Nhân Trung và hiền tài là nguyên khí: Chiến lược nhân tài vượt thời đại

Thân Nhân Trung để lại tư tưởng “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, khẳng định vai trò chiến lược của giáo dục, khoa cử và dùng người tài trong dựng nước.

Lê Thánh Tông lập Hội Tao Đàn: Dưỡng người tài, tạo sức mạnh mềm

Năm 1495, Lê Thánh Tông sáng lập Tao Đàn Nhị thập bát tú, quy tụ 28 tiến sĩ tài hoa cùng xướng họa thi ca. Tìm hiểu cách vị vua thời Hồng Đức dưỡng người tài để tạo sức mạnh mềm văn hóa cho quốc gia Đại Việt.

Lê Lợi thu phục Nguyễn Trãi: mời bậc mưu thần để bù khoảng khuyết của mình

Lê Lợi trọng dụng Nguyễn Trãi ngay khi nhận Bình Ngô sách, biến một trí thức thành quân sư số một của khởi nghĩa Lam Sơn. Tìm hiểu cách vị chủ tướng áo vải biết mời bậc mưu thần để bù khoảng khuyết của chính mình.

Lý Nam Đế chọn Triệu Túc, Triệu Quang Phục: Trao việc cho đúng người, đúng trận

Cách Lý Nam Đế trọng dụng Triệu Túc và Triệu Quang Phục, bài học "trao việc cho đúng người, đúng trận" trong dùng người và quản trị khủng hoảng từ nhà nước Vạn Xuân.

An Dương Vương dùng Cao Lỗ: Chiến lược trọng kỹ nghệ, thực tài

An Dương Vương trọng dụng tướng Cao Lỗ – người chế tạo nỏ thần liên châu, thiết kế thành Cổ Loa. Tìm hiểu chiến lược trọng kỹ nghệ và người có thực tài của vua Âu Lạc qua truyền thuyết và di chỉ khảo cổ.

0976 389 199